Thứ 7, 30/08/2025, 04:01[GMT+7]

Hồi ức chiến sĩ Điện Biên Tự hào là chiến sĩ Điện Biên

Chủ nhật, 04/05/2014 | 17:33:25
2,104 lượt xem
Quá khứ đã lùi xa, tuổi thanh xuân đã để lại nơi chiến trường, lớp chiến sĩ Ðiện Biên năm xưa nay đều đã trên dưới tám mươi xuân. Thế nhưng mỗi lần lật lại ký ức xưa, họ như được sống lại một thời hoa lửa chẳng thể phai mờ.

Cựu chiến binh Lương Văn Sinh bên những kỷ vật và tấm hình chụp chung với Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Một ngày đầu tháng 4, tôi đến thăm gia đình cựu chiến binh (CCB) Lương Văn Sinh ở xã Kim Trung (Hưng Hà). Ở tuổi 85, người lính Ðiện Biên năm nào nay vẫn còn minh mẫn và mạnh khỏe. Trong căn nhà khang trang, ông dành riêng cho mình một góc nhỏ để lưu giữ kỷ vật về những năm tháng trong quân ngũ.

Sinh năm 1930, khi tuổi xuân phơi phới, chàng thanh niên Lương Văn Sinh tạm biệt quê hương lên đường nhập ngũ, được phân công về Trung đoàn 174 - đơn vị có truyền thống anh hùng trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông xúc động nhớ lại: “Ngày ấy còn trẻ lắm, mới có mười tám tuổi, tôi được kết nạp vào Ðảng và sinh hoạt tại Chi bộ xã Văn Lang (Duyên Hà). Khi có lệnh điều động về Khu ủy, tôi được bổ sung vào Trung đoàn chủ lực Cao - Bắc - Lạng (sau này được gọi là Trung đoàn 174) thuộc Ðại đoàn 316. Tuổi trẻ hừng hực khí thế, được lên đường bảo vệ Tổ quốc ai cũng vui vẻ nhận nhiệm vụ”.

Tháng 11/1953, Trung đoàn 174 từ Thanh Hóa lên giải phóng Lai Châu (10/12 đến 20/12/1953), mở đầu cho chiến dịch Ðông Xuân 1953 - 1954. Sau 10 ngày đêm chiến đấu, Trung đoàn đã đập tan âm mưu của địch, buộc chúng phải rút quân về cứ điểm Ðiện Biên Phủ, tạo thời cơ thuận lợi cho quân ta chuẩn bị lực lượng, vũ khí cho trận đánh lớn.

Trong Chiến dịch Ðiện Biên Phủ, nghệ thuật chiến tranh nhân dân của quân đội ta và tài thao lược của Ðại tướng Võ Nguyên Giáp đạt đến đỉnh cao. Việc chuyển từ chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh sang đánh chắc, tiến chắc đã giúp ta giành được những chiến thắng vang dội. Trong thời gian từ 30/3/1954 đến 2/4/1954, quân ta đã chiến đấu oanh liệt, giành giật từng mét đất với quân Pháp. Sau khi tiến công đợt 1, giải phóng Him Lam A, Ðộc Lập, các Ðại đoàn 316, 308, 312 nhận lệnh đánh chiếm tại các cứ điểm phía đông (đồi A1, C1, E, D), trong đó đồi A1 có vị trí đặc biệt quan trọng, chỉ cách hầm của tướng Ðờ Cát 500 mét.

Khi giao nhiệm vụ, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp nói: “Nếu chiếm được đồi A1 có nghĩa là ta ngồi trên trán địch”. Vì thế, nếu ta quyết tâm chiếm đồi A1 thì quân Pháp cũng tìm mọi cách giữ được A1. CCB Lương Văn Sinh kể: “Trong chiến dịch, cán bộ, chiến sĩ ai cũng thể hiện quyết tâm chiến đấu mặc dù gặp rất nhiều khó khăn. Những ngày tháng 3, Ðiện Biên vào mùa mưa, thời tiết bất lợi cho ta rất nhiều. Sau khi bổ sung lực lượng dồn sức tấn công A1, Trung đoàn 102 (Ðại đoàn 308) nhận lệnh từ Sở chỉ huy vào thay thế Trung đoàn 174, ta và địch giằng co nhau suốt từ đêm đến sáng, kéo dài mấy ngày liền”.

Trận đánh đồi A1, quân ta tấn công ba đợt, chiến sự ác liệt ngay từ những ngày đầu. Một mặt ta tiếp tục giữ trận địa, mặt khác lực lượng công binh đào đường hầm thọc sâu vào lòng địch. Ban ngày chiến sĩ ta chiến đấu, ban đêm anh em công binh vào đào đường hầm đặt 1.000 kg bộc phá để phá tan tập đoàn cứ điểm của địch. Vượt qua mọi hy sinh, gian khổ, khắc phục khó khăn về thời tiết, cuối cùng quân ta cũng hoàn thành nhiệm vụ đào xong đường hầm đặt khối bộc phá khổng lồ. Tấn công đợt 3 cũng là đợt quyết định chiến thắng Ðiện Biên Phủ. Mọi công tác chuẩn bị được hoàn tất, tiếng nổ của bộc phá chính là lệnh tổng tiến công. Sau 56 ngày đêm chiến đấu, sáng ngày 7/5/1954, quân ta chiếm toàn bộ cứ điểm của địch, tiến thẳng vào hầm Ðờ Cát. “Lúc ấy chỉ nghe thấy tiếng hô to hòa vào tiếng súng đạn. Tin chiến thắng lan truyền đến toàn mặt trận, anh em chiến sĩ ôm lấy nhau vui mừng đến ứa nước mắt. Ai cũng vui sướng!” - ông xúc động hồi tưởng.

Câu chuyện của người lính già có sức hút kỳ lạ, ông nhớ đến từng chi tiết cũng như từng khuôn mặt đồng đội những ngày sát cánh bên nhau. Lật tìm trong cuốn sổ lưu niệm, ông chọn ra 3 tấm hình đặc biệt nhất. Một là tấm hình ông chụp cùng đồng đội trong lần gặp mặt chiến sĩ Trung đoàn 174 anh hùng tại Thủ đô Hà Nội năm 2010, một tấm hình ông chụp cùng Ðại tướng Võ Nguyên Giáp tại Ðại hội Hội CCB Việt Nam và một tấm hình chụp tại nhà riêng của Ðại tướng khi đoàn đại biểu CCB Thái Bình lên thăm Ðại tướng nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng Ðiện Biên Phủ. Bên cạnh đó, chiếc Huy hiệu chiến sĩ Ðiện Biên là kỷ vật vô giá mà cả cuộc đời ông trân trọng, gìn giữ.

Ông kể cho tôi nghe kỷ niệm về một lần được gặp Bác Hồ, ấy là khi đơn vị kêu gọi, động viên cán bộ, chiến sĩ trở lại chiến trường xưa tham gia xây dựng nông trường tại Ðiện Biên (năm 1957). Bác căn dặn cán bộ, chiến sĩ và động viên mọi người trở lại Ðiện Biên xây dựng nông trường, cùng với đồng bào các dân tộc Tây Bắc xây dựng Ðiện Biên, Lai Châu, khắc phục tàn dư của chiến tranh.

Ông tâm sự: “Sau lần gặp Bác, được Bác động viên, chúng tôi như được thêm sinh lực, nhớ lời Bác dặn, xây dựng Ðiện Biên ngày một giàu đẹp hơn. Với những người lính Trung đoàn 174, Sư đoàn 316 thì đây như một cuộc hành quân lần thứ hai lên Ðiện Biên, cũng bừng bừng khí thế như những ngày chiến đấu giải phóng Ðiện Biên vậy”.

Năm 1958, ông được cử đi học sĩ quan sau đó quay lại đơn vị cũ công tác. Ðến năm 1965, ông được điều động về Tổng cục 2, làm Phó Chủ nhiệm Chính trị cho đến khi nghỉ hưu năm 1990. Hơn 40 năm tham gia quân đội, trải qua những trận chiến oanh liệt, CCB Lương Văn Sinh thấm đẫm phẩm chất cách mạng của người lính Cụ Hồ. Sau khi nghỉ hưu, ông tham gia hoạt động hội CCB xã, huyện 15 năm. Ðó là quãng thời gian người chiến sĩ Ðiện Biên mang những ký ức hào hùng đến với các em học sinh trong những buổi nói chuyện truyền thống.

Tháng 5 này, cả nước kỷ niệm 60 năm chiến thắng Ðiện Biên Phủ. Hòa cùng niềm vui chung của cả dân tộc, CCB Lương Văn Sinh càng vui hơn vì được cùng đồng đội trở lại thăm chiến trường xưa. Thời gian trôi đi để quá khứ trở thành một phần lịch sử không thể nào quên.

Tất Đạt

  • Từ khóa